Dự báo lỗ tăng vọt lên 635 triệu Nhân dân tệ do xóa sổ tài sản
Harmony Auto (03836.HK) dự kiến lỗ hàng năm của mình sẽ tăng hơn gấp đôi lên 635 triệu Nhân dân tệ cho năm kết thúc vào tháng 12 năm ngoái, một sự xấu đi đáng kể so với mức lỗ 291 triệu Nhân dân tệ của năm trước. Cổ phiếu của công ty đã giảm 5,7% sau tin tức này. Khoản lỗ dự kiến này chủ yếu do một loạt các khoản phí đáng kể, không định kỳ với tổng số hơn 422,9 triệu Nhân dân tệ khi công ty thực hiện một cuộc đại tu hoạt động quan trọng.
Các khoản phí này bao gồm khoản lỗ 177 triệu Nhân dân tệ từ việc xóa sổ tài sản và thiết bị do điều chỉnh cửa hàng, và thêm 188,7 triệu Nhân dân tệ trong các khoản dự phòng suy giảm giá trị đối với các tài sản hoạt động kém hiệu quả. Công ty cũng đã ghi nhận khoản lỗ tín dụng dự kiến 57,2 triệu Nhân dân tệ liên quan đến việc một công ty sửa chữa ô tô liên kết vỡ nợ. Một khoản lỗ phi tiền mặt bổ sung 42,1 triệu Nhân dân tệ đã được ghi nhận trên giá trị hợp lý của trái phiếu chuyển đổi. Những hành động này cho thấy một sự rút lui chiến lược khỏi các địa điểm không có lợi nhuận để cải thiện hiệu quả mạng lưới.
Cảnh báo phản ánh sự chậm lại rộng hơn của thị trường xe hơi hạng sang Trung Quốc
Những khó khăn tài chính của Harmony Auto không diễn ra trong một môi trường chân không. Cảnh báo lợi nhuận này trùng hợp với áp lực ngày càng tăng trên thị trường xe hơi hạng sang của Trung Quốc, vốn đang phải vật lộn với nhu cầu chậm lại. Môi trường tiêu dùng yếu này khiến các đại lý khó duy trì lợi nhuận, buộc họ phải thực hiện các nỗ lực tái cấu trúc đau đớn như những gì Harmony đã thực hiện.
Xu hướng này phù hợp với những thách thức toàn cầu mà ngành công nghiệp ô tô hạng sang đang đối mặt. Các nhà sản xuất đã báo cáo những khó khăn ở các thị trường trọng điểm, bao gồm Hoa Kỳ và Trung Quốc. Đối với các đại lý như Harmony, những người đang ở tuyến đầu của hoạt động bán hàng tiêu dùng, việc giảm lưu lượng khách hàng đến showroom và các đơn đặt hàng mới trực tiếp dẫn đến giảm doanh thu và buộc họ phải đưa ra các quyết định khó khăn liên quan đến quy mô mạng lưới và chi phí hoạt động.