Lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần trong "Cuộc chiến Hormuz" đã tạm dừng giao tranh, nhưng cuộc xung đột đã thay đổi vĩnh viễn tính toán chiến lược đối với 21% nguồn cung dầu toàn cầu đi qua eo biển này.
Quay lại
Lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần trong "Cuộc chiến Hormuz" đã tạm dừng giao tranh, nhưng cuộc xung đột đã thay đổi vĩnh viễn tính toán chiến lược đối với 21% nguồn cung dầu toàn cầu đi qua eo biển này.

Lệnh ngừng bắn tạm thời kéo dài hai tuần giữa Mỹ và Iran đã tạm dừng cuộc xung đột kéo dài sáu tuần làm chao đảo thị trường năng lượng, nhưng vị thế của eo biển Hormuz đã thay đổi không thể đảo ngược từ một kênh lưu thông tự do thành một tuyến đường thủy được quản lý, nơi Tehran hiện đang nắm giữ ảnh hưởng đáng kể.
"Bất kể cách giải thích nào về các tuyên bố từ Washington và Tehran, có một điều không thể phủ nhận: eo biển Hormuz không còn như trước," chuyên gia phân tích Javier Blas của Bloomberg viết. "Thứ vốn là một tuyến đường thủy tự do trước chiến tranh giờ đây, khả quan nhất, là một tuyến đường được quản lý."
Cuộc xung đột, vốn làm gián đoạn việc vận chuyển một phần năm nguồn cung dầu và LNG của thế giới, đã chứng kiến lưu lượng tàu bè qua eo biển giảm xuống mức gần như bế tắc. Ngay cả khi có lệnh ngừng bắn, rất ít tàu bè quá cảnh qua tuyến đường thủy này tính đến thứ Tư, phản ánh tín hiệu rõ ràng của Iran rằng việc đi qua hiện cần có sự cho phép rõ ràng của họ.
Sự thay đổi này tạo ra một mức phí rủi ro địa chính trị mới đối với các chuyến quá cảnh qua Hormuz và thúc đẩy đầu tư dài hạn của các quốc gia vùng Vịnh vào các tuyến đường ống thay thế. Bước ngoặt chiến lược này được thiết lập để dần dần làm xói mòn đòn bẩy của Iran đối với nguồn cung năng lượng toàn cầu, tái định hình cơ bản bản đồ năng lượng của khu vực trong 5 năm tới.
Trong khi Iran đã có được sự hiểu biết mới về sức mạnh chiến lược của mình — hiểu chính xác họ có thể làm gián đoạn eo biển trong bao lâu và thị trường quốc tế sẽ phản ứng ra sao — các nước láng giềng của họ cũng đã tiếp thu được những bài học quan trọng. Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, vốn đã vận hành các đường ống bỏ qua eo biển, giờ đây gần như chắc chắn sẽ mở rộng cơ sở hạ tầng này để lách qua điểm nghẽn.
Các quốc gia khác trong khu vực dự kiến sẽ làm theo. Kuwait có thể hợp tác với Ả Rập Xê Út để xây dựng đường ống bỏ qua của riêng mình, trong khi Iraq có động lực mạnh mẽ để xây dựng lại đường ống chiến lược cũ tới Địa Trung Hải thông qua Thổ Nhĩ Kỳ. Theo Blas, kết quả là sự kìm kẹp của Iran đối với nguồn cung năng lượng sẽ lỏng lẻo dần theo thời gian. Trong vòng 5 năm tới, Vịnh Ba Tư sẽ sở hữu một mạng lưới các tuyến đường thay thế mạnh mẽ hơn nhiều, làm giảm đi tầm quan trọng độc tôn của eo biển này đối với nền kinh tế toàn cầu.
Việc quay trở lại hiện trạng trước chiến tranh, được điều chỉnh bởi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, có vẻ khó xảy ra, đặc biệt khi cả Mỹ và Iran đều chưa phê chuẩn hiệp ước này. Thay vào đó, việc quản lý trong tương lai có thể dựa trên các hiệp ước lịch sử đối với các điểm nghẽn hàng hải khác. Công ước Montreux năm 1936, quy định việc đi qua eo biển Bosphorus của Thổ Nhĩ Kỳ là tự do nhưng phải chịu sự quản lý của Thổ Nhĩ Kỳ và phí dịch vụ, mang lại một khuôn mẫu tiềm năng.
Một thỏa thuận tương tự có thể cho phép Iran tuyên bố chiến thắng chính trị bằng cách thiết lập quyền kiểm soát danh nghĩa và thu phí các dịch vụ như dẫn đường hoặc ngăn ngừa sự cố tràn dầu. Tuy nhiên, tác động thực tế có thể là tối thiểu nếu hầu hết lưu lượng tàu chở dầu chuyển sang các đường ống mở rộng và vùng biển Oman thân thiện hơn, có khả năng để lại cho Tehran một chiến thắng rỗng tuếch. Bất kể kết quả ngoại giao ra sao, eo biển này sẽ không bao giờ giữ được sức nặng quan trọng như sáu tuần trước.
Bài viết này chỉ mang tính chất thông tin và không cấu thành lời khuyên đầu tư.